Và thư giãn chút nhé
Các bạn hãy clich vào các chú cá đang bơi sẽ rất thú
vị đấy .Chúc các bạn vui vẻ
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
CD toanLY THUYET.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Chu Thi Loan (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:23' 22-02-2012
Dung lượng: 141.8 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Chu Thi Loan (trang riêng)
Ngày gửi: 21h:23' 22-02-2012
Dung lượng: 141.8 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Chào mừng các thầy,
cô giáo về dự chuyên đề
Môn toán - Lớp 8A
Trường THCS Lý Tự Trọng
"sử dụng bản đồ tư duy
trong dạy tiết ôn tập chương"
CHuyên đề
Tổ : Khoa học tự nhiên
Đơn vị : Trường THCS lý Tự Trọng
báo cáo Lý thuyết
Phần thứ nhất
I, Thực trạng giảng dạy trong nhà trường
1, Về phía SGK – SGV – TLTK – Đồ dùng dạy học
*SGK:
+ Phần A: là các câu hỏi về những nội dung cơ bản của chương, giúp HS tái hiện lại những nội dung cơ bản của chương khi tham gia trả lời các câu hỏi. Số lượng câu hỏi quan hệ chặt chẽ với khung phân phối chương trình, các chương, mục trong SGK.
Trình bày rõ ràng, nội dung ôn tập chương bao gồm 2 phần:
Phần A. Câu hỏi
Phần B. Bài tập
Số lượng câu hỏi được xây dựng dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình. Nội dung trình bày cụ thể, câu chữ rõ ràng, trong sáng dễ hiểu.
Tuy nhiên SGK chưa liên kết được các vấn đề trong chương dưới dạng sơ đồ, bảng biểu, không tổng hợp được mối quan hệ giữa các mạch kiến thức với nhau.
+ Phần B: là hệ thống bài tập mang tính tổng hợp, phân dạng rõ ràng giúp HS ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện để HS được tăng cường luyện tập thực hành, rèn luyện kỹ năng tính toán và vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và các môn học khác. Song việc sử dụng BĐTD chưa được đề cập đến vì sách xuất bản đã lâu.
*SGV:
- Có gợi ý cụ thể, rõ ràng cho từng hoạt động ở tiết dạy. Có gợi ý về việc sử dụng quỹ thời gian để tiến hành cho học sinh nhắc lại, ôn tập toàn bộ phần lý thuyết và thời gian luyện giải các bài tập cơ bản trong SGV
- Có 1 số điểm lưu ý cho giáo viên về những mảng kiến thức cơ bản và các dạng bài tập cần cho HS giải thành thạo
- Có phần gợi ý 1 số đề kiểm tra cuối mỗi chương để giáo viên tham khảo xây dựng ma trận đề kiểm tra cho phù hợp với chuẩn kiến thức kỹ năng và phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh.
- Tuy nhiên SGV chưa cập nhật sử dụng BĐTD trong trong phần gợi ý tiết dạy
* Tài liệu tham khảo: Chưa có nhiều tài liệu đề cập đến việc sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy đặc biệt là tiết ôn tập chương.
* Đồ dùng dạy học: Nhà trường đã có phòng máy giúp giáo viên có thể sử dụng một số phần mềm thiết kế các hoạt động cho tiết ôn tập chương.
2. Đối với giáo viên:
*Ưu điểm:- Qua các năm dạy thay sách, giáo viên đã có nhiều kinh nghiệm giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Một số giáo viên tâm huyết với nghề đã chịu khó tham khảo tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tích cực dự giờ thăm lớp, học hỏi đồng nghiệp, vận dụng một cách linh hoạt, đổi mới
phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình và đối tượng học sinh.
- Một số giáo viên đã tự làm đồ dùng dạy học ngoài các đồ
dùng dạy học đã được trang bị sẵn như các bảng tổng kết, sơ đồ sử dụng vào các giờ lên lớp đạt hiệu quả khá tốt.
Một số giáo viên đã tiếp cận với việc sử dụng phần mềm Buzan`s iMindMap để thiết kế bản đồ tư duy trong việc hệ thống hóa kiến thức cho học sinh.
* Nhược điểm: - Khi dạy tiết ôn tập chương một số giáo viên thường ôn tập rời rạc lý thuyết, đưa ra một hệ thống câu hỏi, yêu cầu học sinh trả lời. Cách làm như vậy chỉ mang tính chất liệt kê kiến thức, thậm chí những kiến thức trọng tâm lại chỉ đi lướt qua không được đào sâu,
còn kiến thức không cơ bản lại được trình bày một cách dài dòng. Như vậy tiết dạy không những không đảm bảo được tính lô gíc của hệ thống kiến thức mà nó trở nên tẻ nhạt, nhàm chán không gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Một số giáo viên còn hạn chế khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, còn lúng túng khi lựa chọn phương pháp dạy tiết ôn tập chương.
Một số giáo viên còn ngại, chưa chịu khó tìm tòi, xây dựng giáo án điện tử về sử dụng BĐTD. Chưa phát huy được tính tích cực học tập, tư duy lô gíc của học sinh
Một số giáo viên còn hạn chế trong việc sử dụng và thiết kế BĐTD áp dụng vào tiết ôn tập chương và sử dụng trong giảng dạy chưa nhiều ,chưa có hiệu quả
3, Đối với học sinh:
Đối tượng HS trường THCS Lý Tự Trọng chủ yếu là con em vùng nông nghiệp, rất nhiều em không có điều kiện học tập, việc tiếp thu lượng kiến thức ở lớp chưa hoàn chỉnh. Trong khi đó lượng kiến thức trong các tiết ôn tập lại nhiều, do đó gây ra sự quá tải trong việc tiếp nhận kiến thức(dù chỉ là ôn lại) ở trên lớp.
- Một số đông HS còn lười học, chưa nắm chắc được khái niệm, định nghĩa, định lý toán học, cũng chính vì vậy không nắm được những dấu hiệu bản chất, dẫn đến gặp khó khăn về chứng minh, suy luận hay tư duy một vấn đề toán học.
- Nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào não bộ mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Hầu hết HS chưa hệ thống lại được nội dung kiến thức cơ bản trong chương, chưa tìm ra được sợi chỉ liên kết giữa các kiến thức trong chương với nhau, chưa tự mình tìm ra được những phương pháp giải các dạng bài tập. Vì vậy khi ôn tập học sinh bị lẫn lộn các kiến thức, nhầm lẫn khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập.
II, Một số giải pháp:
1, Đối với giáo viên:
a) GV phải xác định BĐTD là một công cụ hữu ích trong học tập và giảng dạy, vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin ...
BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi HS.
Việc hướng dẫn HS sử dụng BĐTD trong các tiết ôn tập giúp HS dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ, do nó được thể hiện bởi mầu sắc, liên kết, liên hệ giữa các ý của một vấn đề, có tác dụng kích thích sáng tạo của HS, giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức, BĐTD giúp HS nhìn thấy bức tranh tổng thể mà lại chi tiết, giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng
b) Để có được tiết dạy ôn tập ở trên lớp đạt kết quả, trước hết giáo viên phải tạo cho học sinh có được hứng thú học tập, người thầy phải chủ động trong khâu soạn giảng, tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức trong chương, chọn lọc nội dung các bài tập sao cho phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp nhưng vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức tổng hợp trong chương.
Đặc biệt khâu chuẩn bị cho tiết dạy hết sức quan trọng như bảng phụ, sơ đồ, mô hình, hình vẽ mà ở đây là sử dụng BĐTD để tái hiện, khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Khi dạy trên lớp giáo viên nên hướng dẫn học sinh làm quen với việc sử dụng bản đồ tư duy trong việc hệ thống lại kiến thức của một bài, một phần hay một chương, một chủ
đề vì BĐTD còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,... Là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề.
BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết. BĐTD không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau.
Cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, mầu sắc, với các mạng lưới liên tưởng(các nhánh).Có thể vận dụng BDTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới,củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kỳ,tóm lược một cuốn sách,…cũng như giúp lập kế hoạch công tác.
Ở mỗi tiết ôn tập chương giáo viên yêu cầu mỗi nhóm lên trình bày bản đồ tư duy về nội dung kiến thức của chương mà HS các nhóm đã chuẩn bị ở nhà, HS các nhóm quan sát, nghe, thảo luận, chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của từng nhóm HS( Đã đủ các kiến thức cơ bản của chương chưa, việc sắp xếp các đơn vị kiến thức đã khoa học chưa?
Về khả năng thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó của đại diện từng nhóm HS...). Sau đó giáo viên đưa ra bản đồ tư duy chuẩn nhất đã chuẩn bị ở nhà trên màn hình để HS theo dõi, đối chiếu với bản đồ tư duy của nhóm mình và có thể cho điểm đối với nhóm HS có kết quả tốt nhất.
Làm như thế này tạo cho HS phải có ý thức chuẩn bị bài ở nhà và do phải có sự nhận xét bản đồ tư duy của từng nhóm nên HS đều phải chú ý quan sát để có thể nhận xét được bài làm của nhóm bạn, tránh việc ôn tập chỉ rơi vào một số HS khá giỏi. HS được trao đổi, thảo luận để thấy được những mặt tồn tại của nhóm mình từ đó có hướng khắc phục ở những lần sau, HS được rèn luyện khả năng trình bày ý tưởng trước các bạn trong lớp...
2, Đối với học sinh: yêu cầu HS phải thực hiện:
a) Ôn lại toàn bộ nội dung kiến thức trong chương thông qua hệ thống câu hỏi ở SGK ở cuối mỗi chương phần ôn tập
HS phải sắp xếp lại hệ thống kiến thức theo trình tự kiến thức nào học trước được tái hiện trước... Sắp xếp lại nội dung kiến thức trong chương theo từng mảng đơn vị kiến thức mà HS đã được học
b) Hệ thống được nội dung kiến thức trong chương thông qua BĐTD
Cá nhân HS phải tự vẽ bản đồ tư duy theo ý tưởng của mình, dùng các màu sắc lựa chọn để thể hiện các nhánh của từng mảng đơn vị kiến thức, việc làm này giúp HS ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc hơn vì đường cong, màu sắc của từng nhánh sẽ tác động vào não bộ của HS sâu hơn, HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn.
Làm như thế này HS có thể nhìn nhận được hệ thống kiến thức một cách lô gic hơn, tổng quát hơn, giành được nhiều thời gian luyện tập ở trên lớp (đây là vấn đề mà tất cả giáo viên đều quan tâm khi dạy các tiết ôn tập, tổng kết)
c) Tập “đọc hiểu” BĐTD, nghĩa là tập cho HS thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó, sao cho chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kỳ HS nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo mạch lôgic của kiến thức.
* Một số lưu ý khi dạy tiết ôn tập:
a) Tiết ôn tập không phải là tiết nhắc lại các kiến thức đã học mà phải cố gắng tìm ra được “ Sợi chỉ” liên kết các kiến thức ấy với nhau.
b) Nên có các bảng hệ thống mà trong bảng đó có các mối liên quan cả theo hàng lẫn theo cột. Tận dụng các sơ đồ để hệ thống kiến thức - đây chính là xây dựng BĐTD.
c) Nên chọn những bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức cần ôn tập, qua đó khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cơ bản đã học.
d) Luôn luôn thay đổi hình thức ôn tập cho phong phú, đa dạng và hiệu quả. Trong bất kì hình thức nào, HS cũng phải chủ động tham gia vào quá trình ôn tập kiến thức.
Kính chúc các
thầy, cô giáo mạnh khỏe
cô giáo về dự chuyên đề
Môn toán - Lớp 8A
Trường THCS Lý Tự Trọng
"sử dụng bản đồ tư duy
trong dạy tiết ôn tập chương"
CHuyên đề
Tổ : Khoa học tự nhiên
Đơn vị : Trường THCS lý Tự Trọng
báo cáo Lý thuyết
Phần thứ nhất
I, Thực trạng giảng dạy trong nhà trường
1, Về phía SGK – SGV – TLTK – Đồ dùng dạy học
*SGK:
+ Phần A: là các câu hỏi về những nội dung cơ bản của chương, giúp HS tái hiện lại những nội dung cơ bản của chương khi tham gia trả lời các câu hỏi. Số lượng câu hỏi quan hệ chặt chẽ với khung phân phối chương trình, các chương, mục trong SGK.
Trình bày rõ ràng, nội dung ôn tập chương bao gồm 2 phần:
Phần A. Câu hỏi
Phần B. Bài tập
Số lượng câu hỏi được xây dựng dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình. Nội dung trình bày cụ thể, câu chữ rõ ràng, trong sáng dễ hiểu.
Tuy nhiên SGK chưa liên kết được các vấn đề trong chương dưới dạng sơ đồ, bảng biểu, không tổng hợp được mối quan hệ giữa các mạch kiến thức với nhau.
+ Phần B: là hệ thống bài tập mang tính tổng hợp, phân dạng rõ ràng giúp HS ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, tạo điều kiện để HS được tăng cường luyện tập thực hành, rèn luyện kỹ năng tính toán và vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và các môn học khác. Song việc sử dụng BĐTD chưa được đề cập đến vì sách xuất bản đã lâu.
*SGV:
- Có gợi ý cụ thể, rõ ràng cho từng hoạt động ở tiết dạy. Có gợi ý về việc sử dụng quỹ thời gian để tiến hành cho học sinh nhắc lại, ôn tập toàn bộ phần lý thuyết và thời gian luyện giải các bài tập cơ bản trong SGV
- Có 1 số điểm lưu ý cho giáo viên về những mảng kiến thức cơ bản và các dạng bài tập cần cho HS giải thành thạo
- Có phần gợi ý 1 số đề kiểm tra cuối mỗi chương để giáo viên tham khảo xây dựng ma trận đề kiểm tra cho phù hợp với chuẩn kiến thức kỹ năng và phù hợp với trình độ nhận thức của từng đối tượng học sinh.
- Tuy nhiên SGV chưa cập nhật sử dụng BĐTD trong trong phần gợi ý tiết dạy
* Tài liệu tham khảo: Chưa có nhiều tài liệu đề cập đến việc sử dụng bản đồ tư duy trong giảng dạy đặc biệt là tiết ôn tập chương.
* Đồ dùng dạy học: Nhà trường đã có phòng máy giúp giáo viên có thể sử dụng một số phần mềm thiết kế các hoạt động cho tiết ôn tập chương.
2. Đối với giáo viên:
*Ưu điểm:- Qua các năm dạy thay sách, giáo viên đã có nhiều kinh nghiệm giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh.
Một số giáo viên tâm huyết với nghề đã chịu khó tham khảo tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tích cực dự giờ thăm lớp, học hỏi đồng nghiệp, vận dụng một cách linh hoạt, đổi mới
phương pháp dạy học phù hợp với nội dung chương trình và đối tượng học sinh.
- Một số giáo viên đã tự làm đồ dùng dạy học ngoài các đồ
dùng dạy học đã được trang bị sẵn như các bảng tổng kết, sơ đồ sử dụng vào các giờ lên lớp đạt hiệu quả khá tốt.
Một số giáo viên đã tiếp cận với việc sử dụng phần mềm Buzan`s iMindMap để thiết kế bản đồ tư duy trong việc hệ thống hóa kiến thức cho học sinh.
* Nhược điểm: - Khi dạy tiết ôn tập chương một số giáo viên thường ôn tập rời rạc lý thuyết, đưa ra một hệ thống câu hỏi, yêu cầu học sinh trả lời. Cách làm như vậy chỉ mang tính chất liệt kê kiến thức, thậm chí những kiến thức trọng tâm lại chỉ đi lướt qua không được đào sâu,
còn kiến thức không cơ bản lại được trình bày một cách dài dòng. Như vậy tiết dạy không những không đảm bảo được tính lô gíc của hệ thống kiến thức mà nó trở nên tẻ nhạt, nhàm chán không gây được hứng thú học tập cho học sinh.
Một số giáo viên còn hạn chế khi tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh, còn lúng túng khi lựa chọn phương pháp dạy tiết ôn tập chương.
Một số giáo viên còn ngại, chưa chịu khó tìm tòi, xây dựng giáo án điện tử về sử dụng BĐTD. Chưa phát huy được tính tích cực học tập, tư duy lô gíc của học sinh
Một số giáo viên còn hạn chế trong việc sử dụng và thiết kế BĐTD áp dụng vào tiết ôn tập chương và sử dụng trong giảng dạy chưa nhiều ,chưa có hiệu quả
3, Đối với học sinh:
Đối tượng HS trường THCS Lý Tự Trọng chủ yếu là con em vùng nông nghiệp, rất nhiều em không có điều kiện học tập, việc tiếp thu lượng kiến thức ở lớp chưa hoàn chỉnh. Trong khi đó lượng kiến thức trong các tiết ôn tập lại nhiều, do đó gây ra sự quá tải trong việc tiếp nhận kiến thức(dù chỉ là ôn lại) ở trên lớp.
- Một số đông HS còn lười học, chưa nắm chắc được khái niệm, định nghĩa, định lý toán học, cũng chính vì vậy không nắm được những dấu hiệu bản chất, dẫn đến gặp khó khăn về chứng minh, suy luận hay tư duy một vấn đề toán học.
- Nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào não bộ mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Hầu hết HS chưa hệ thống lại được nội dung kiến thức cơ bản trong chương, chưa tìm ra được sợi chỉ liên kết giữa các kiến thức trong chương với nhau, chưa tự mình tìm ra được những phương pháp giải các dạng bài tập. Vì vậy khi ôn tập học sinh bị lẫn lộn các kiến thức, nhầm lẫn khi vận dụng kiến thức vào giải bài tập.
II, Một số giải pháp:
1, Đối với giáo viên:
a) GV phải xác định BĐTD là một công cụ hữu ích trong học tập và giảng dạy, vì chúng giúp giáo viên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua biểu đồ, tóm tắt thông tin ...
BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi HS.
Việc hướng dẫn HS sử dụng BĐTD trong các tiết ôn tập giúp HS dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ, do nó được thể hiện bởi mầu sắc, liên kết, liên hệ giữa các ý của một vấn đề, có tác dụng kích thích sáng tạo của HS, giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức, BĐTD giúp HS nhìn thấy bức tranh tổng thể mà lại chi tiết, giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng
b) Để có được tiết dạy ôn tập ở trên lớp đạt kết quả, trước hết giáo viên phải tạo cho học sinh có được hứng thú học tập, người thầy phải chủ động trong khâu soạn giảng, tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức trong chương, chọn lọc nội dung các bài tập sao cho phù hợp với các đối tượng học sinh trong lớp nhưng vẫn đảm bảo được nội dung kiến thức tổng hợp trong chương.
Đặc biệt khâu chuẩn bị cho tiết dạy hết sức quan trọng như bảng phụ, sơ đồ, mô hình, hình vẽ mà ở đây là sử dụng BĐTD để tái hiện, khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Khi dạy trên lớp giáo viên nên hướng dẫn học sinh làm quen với việc sử dụng bản đồ tư duy trong việc hệ thống lại kiến thức của một bài, một phần hay một chương, một chủ
đề vì BĐTD còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,... Là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề.
BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết. BĐTD không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau.
Cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi học sinh.
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, mầu sắc, với các mạng lưới liên tưởng(các nhánh).Có thể vận dụng BDTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới,củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hoá kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kỳ,tóm lược một cuốn sách,…cũng như giúp lập kế hoạch công tác.
Ở mỗi tiết ôn tập chương giáo viên yêu cầu mỗi nhóm lên trình bày bản đồ tư duy về nội dung kiến thức của chương mà HS các nhóm đã chuẩn bị ở nhà, HS các nhóm quan sát, nghe, thảo luận, chỉ ra ưu điểm, nhược điểm của từng nhóm HS( Đã đủ các kiến thức cơ bản của chương chưa, việc sắp xếp các đơn vị kiến thức đã khoa học chưa?
Về khả năng thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó của đại diện từng nhóm HS...). Sau đó giáo viên đưa ra bản đồ tư duy chuẩn nhất đã chuẩn bị ở nhà trên màn hình để HS theo dõi, đối chiếu với bản đồ tư duy của nhóm mình và có thể cho điểm đối với nhóm HS có kết quả tốt nhất.
Làm như thế này tạo cho HS phải có ý thức chuẩn bị bài ở nhà và do phải có sự nhận xét bản đồ tư duy của từng nhóm nên HS đều phải chú ý quan sát để có thể nhận xét được bài làm của nhóm bạn, tránh việc ôn tập chỉ rơi vào một số HS khá giỏi. HS được trao đổi, thảo luận để thấy được những mặt tồn tại của nhóm mình từ đó có hướng khắc phục ở những lần sau, HS được rèn luyện khả năng trình bày ý tưởng trước các bạn trong lớp...
2, Đối với học sinh: yêu cầu HS phải thực hiện:
a) Ôn lại toàn bộ nội dung kiến thức trong chương thông qua hệ thống câu hỏi ở SGK ở cuối mỗi chương phần ôn tập
HS phải sắp xếp lại hệ thống kiến thức theo trình tự kiến thức nào học trước được tái hiện trước... Sắp xếp lại nội dung kiến thức trong chương theo từng mảng đơn vị kiến thức mà HS đã được học
b) Hệ thống được nội dung kiến thức trong chương thông qua BĐTD
Cá nhân HS phải tự vẽ bản đồ tư duy theo ý tưởng của mình, dùng các màu sắc lựa chọn để thể hiện các nhánh của từng mảng đơn vị kiến thức, việc làm này giúp HS ghi nhớ kiến thức một cách sâu sắc hơn vì đường cong, màu sắc của từng nhánh sẽ tác động vào não bộ của HS sâu hơn, HS ghi nhớ kiến thức tốt hơn.
Làm như thế này HS có thể nhìn nhận được hệ thống kiến thức một cách lô gic hơn, tổng quát hơn, giành được nhiều thời gian luyện tập ở trên lớp (đây là vấn đề mà tất cả giáo viên đều quan tâm khi dạy các tiết ôn tập, tổng kết)
c) Tập “đọc hiểu” BĐTD, nghĩa là tập cho HS thuyết trình, diễn giải mạch nội dung kiến thức hàm chứa trong BĐTD đó, sao cho chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kỳ HS nào cũng có thể thuyết trình được nội dung một bài học hay một chủ đề, một chương theo mạch lôgic của kiến thức.
* Một số lưu ý khi dạy tiết ôn tập:
a) Tiết ôn tập không phải là tiết nhắc lại các kiến thức đã học mà phải cố gắng tìm ra được “ Sợi chỉ” liên kết các kiến thức ấy với nhau.
b) Nên có các bảng hệ thống mà trong bảng đó có các mối liên quan cả theo hàng lẫn theo cột. Tận dụng các sơ đồ để hệ thống kiến thức - đây chính là xây dựng BĐTD.
c) Nên chọn những bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thức cần ôn tập, qua đó khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cơ bản đã học.
d) Luôn luôn thay đổi hình thức ôn tập cho phong phú, đa dạng và hiệu quả. Trong bất kì hình thức nào, HS cũng phải chủ động tham gia vào quá trình ôn tập kiến thức.
Kính chúc các
thầy, cô giáo mạnh khỏe
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất